Skip to main content

TUYÊN TRUYỀN Kỷ Niệm 91 Năm Ngày Truyền Thống Đảng Bộ Tỉnh Lạng Sơn (15/6/1933 - 15/6/2024)

I. CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN RA ĐỜI MỞ RA BƯỚC NGOẶT QUAN TRỌNG CHO PHONG TRÀO CÁCH MẠNG LẠNG SƠN

1. Bối cảnh lịch sử ra đời chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên

1.1. Bối cảnh trong nước

 Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam từng bước thiết lập bộ máy thống trị, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành “Một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc mô, Tổ quốc bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”. Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi.

Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội, đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, đó là một chính sách chuyên chế điển hình, chúng đàn áp đẫm máu các phong trào và hành động yêu nước của người Việt Nam, mọi quyền tự do bị cấm. Chúng chia rẽ ba nước Đông Dương, chia Việt Nam thành ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng.

Về kinh tế, thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ để thực hiện chính sách bóc lột tàn bạo, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; ra sức vơ vét tài nguyên, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.

Về văn hóa, thực dân Pháp tiến hành chính sách ngu dân, chúng bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ thế giới, khuyến khích văn hóa độc hại, xuyên tạc lịch sử, giá trị văn hóa Việt Nam, dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu.

Sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn xã hội diễn ra ngày càng gay gắt. Các cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược diễn ra mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại, xã hội Việt Nam rơi vào khủng hoảng về đường lối cách mạng.

Giữa lúc dân tộc đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời, ngày 05/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước, Nguyễn Tất Thành đã bất chấp mọi nguy hiểm, gian khổ, đi qua nhiều nước của châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã rút ra chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như các nước thuộc địa. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp gửi bản yêu sách gồm 8 điểm đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.

Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” đăng trên báo Nhân đạo và cũng chính từ đây đã giải đáp cho Người con đường đấu tranh giành độc lập tự do thực sự cho dân tộc, cho đồng bào mình.

Từ ngày 25 đến ngày 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ 18 Đại hội Đảng Xã hội Pháp với tư cách là đại biểu Đông Dương. Kết thúc ngày 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc tán thành thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, là người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

Từ năm 1921 - 1930, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước, vừa tích cực tuyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người tập trung chuẩn bị về tổ chức và cán bộ, lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (1925); tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu, Trung Quốc, đồng thời gửi cán bộ đi học tại trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc).

Nhờ hoạt động không mệt mỏi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách mạng tiền bối, đến cuối năm 1929, đầu năm 1930, những điều kiện cho sự ra đời của cách mạng Việt Nam đã chín muồi.

Từ ngày 06/01/1930 đến ngày 07/02/1930, tại bán đảo Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản[1] thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

1.2. Bối cảnh tỉnh Lạng Sơn

Từ năm 1891, sau khi hoàn thành việc bình định xong các tỉnh Bắc Kỳ, cũng như nhiều tỉnh, thành khác, thực dân Pháp bắt đầu thiết lập chính quyền đô hộ của chúng ở Lạng Sơn. Bên cạnh các phong trào đấu tranh của công nhân chống áp bức, bóc lột, trong hơn 20 năm đầu thế kỷ XX, Nhân dân Lạng Sơn tích cực hưởng ứng các phong trào yêu nước, nhiều lần tổ chức phản kháng vũ trang chống lại sự áp bức của thực dân phong kiến. Tháng 9/1921, nhân dân xã Tân Yên (châu Văn Uyên) phối hợp với một số lính dõng yêu nước ở đồn Pác Luống mai phục, chặn đường tiêu diệt tuần phủ Cung Khắc Đản khi đang trên đường từ Tràng Định trở về tỉnh lỵ. Sau vụ mai phục này, thực dân Pháp khủng bố dã man các xóm Cốc Nam, Khưa Đa, Ma Mèo, Tà Lài. Những cuộc đấu tranh đơn lẻ và tự phát đó đã phản ánh ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân Lạng Sơn.

Tháng 11/1924, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu, Trung Quốc. Người bồi dưỡng và cải tổ các thanh niên yêu nước trong tổ chức Tâm tâm xã và thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (tháng 6/1925), xuất bản tờ báo Thanh niên và tổ chức nhiều lớp huấn luyện cán bộ sau đó đưa về gây dựng cơ sở cách mạng trong nước. Hưởng ứng cuộc vận động cách mạng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, một số thanh niên yêu nước ở thị xã Lạng Sơn bí mật tiếp cận sách, báo, tài liệu của Hội, đồng thời thành lập Nhóm học sinh yêu nước ở Trường Tiểu học Pháp - Việt Lạng Sơn, trong đó có Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri[3].

Hòa cùng phong trào của cả nước, dưới sự vận động của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Chu Trinh được tổ chức rộng rãi ở Lạng Sơn. Đặc biệt ở thị xã Lạng Sơn, phong trào đã lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Nhóm thanh niên yêu nước tại Trường Tiểu học Pháp - Việt Lạng Sơn, trong đó có hai anh Hoàng Văn Thụ và Lương Văn Tri, tổ chức căng biểu ngữ, dán khẩu hiệu, dự các buổi tuyên truyền về thân thế và sự nghiệp của hai cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Phong trào góp phần tạo ra bước chuyển biến tư tưởng quan trọng, từ đấu tranh yêu nước tự phát hướng tới phong trào đấu tranh cách mạng tự giác, có mục tiêu rõ ràng.

Để đối phó với phong trào đấu tranh của thanh niên, học sinh Lạng Sơn, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, đuổi học, bắt giam những người đứng đầu. Tình hình đó thôi thúc hai anh Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri tìm cách bắt liên lạc với cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên.

Cuối năm 1927, từ mảnh đất biên giới Văn Uyên, Hoàng Văn Thụ và Lương Văn Tri bắt đầu hành trình trên con đường cách mạng. Tháng 01/1928, hai anh đến bản Lũng Nghịu (thuộc huyện Long Châu, Sùng Tả, Quảng Tây, Trung Quốc). Tại đây, các anh được gia đình ông bà Mã Đình Nhân[4] giúp tiếp cận với các cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Cuối năm 1928, Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên; cuối năm 1929 được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng. Ngày 03/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đồng chí Hoàng Văn Thụ và đồng chí Lương Văn Tri[5] trở thành đảng viên lớp đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Sự ra đời Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Lạng Sơn

Từ sau cao trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh (1930 - 1931), thực dân Pháp tiến hành cuộc khủng bố đẫm máu phong trào cách mạng, nhiều cơ sở đảng và cơ sở quần chúng bị phá vỡ, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt, sát hại, tù đày, phong trào cách mạng bước vào giai đoạn khó khăn.

Đến cuối năm 1931, đồng chí Hoàng Văn Thụ chỉ đạo tuyên truyền, vận động, giác ngộ, tập hợp được 10 tổ chức quần chúng cách mạng với 30 người ở các làng biên giới thuộc Văn Uyên, từ đó mở rộng địa bàn hoạt động ra các vùng xung quanh[6]. Hoạt động của các tổ chức quần chúng ở đây đã xây dựng được địa bàn, đường dây liên lạc cho hoạt động của các chiến sĩ cách mạng Việt Nam giữa hai vùng biên giới.

Cuối năm 1932 đầu năm 1933, đồng chí Lê Hồng Phong quyết định thành lập Đảng bộ đặc biệt Long Châu; cử đồng chí Hoàng Đình Giong làm Bí thư, đồng chí Hoàng Văn Thụ làm Phó Bí thư.

Đầu năm 1933, theo chỉ đạo của đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Hoàng Đình Giong về hoạt động gây dựng phong trào, khôi phục tổ chức đảng ở Hải Phòng và vùng mỏ Đông Bắc; đồng chí Hoàng Văn Thụ được chỉ định làm Bí thư Đảng bộ đặc biệt Long Châu, đồng thời có nhiệm vụ về Lạng Sơn tuyên truyền vận động thanh niên sang dự các lớp huấn luyện ở Long Châu.

Từ những cơ sở quần chúng cách mạng ban đầu ở Khưa Đa, Ma Mèo, Tân Yên, Tân Thanh đến giữa năm 1933, phong trào quần chúng cách mạng phát triển sang khu vực các xã Thụy Hùng, Hồng Phong, Phú Xá... Vượt qua sự kiểm soát gắt gao của chính quyền tay sai, các cơ sở quần chúng được hình thành và bắt đầu đảm nhận nhiệm vụ tuyên truyền mục tiêu cách mạng của Đảng.

Trước sự tiến triển của phong trào quần chúng cách mạng, để gây dựng tổ chức và phong trào có trọng điểm, đồng chí Hoàng Văn Thụ và Đảng bộ đặc biệt Long Châu quyết định thành lập một tổ chức cơ sở Đảng ở châu Văn Uyên để làm nòng cốt cho phong trào tỉnh Lạng Sơn. Được sự ủy nhiệm của Đảng, giữa năm 1933, đồng chí Hoàng Văn Thụ và đồng chí Đoàn Viết Thọ tới đình Háng Pài, thôn Khòn Pheo, xã Thụy Hùng, châu Văn Uyên (nay là xã Thụy Hùng, huyện Cao Lộc) tổ chức lễ kết nạp đảng viên, thành lập Chi bộ Thụy Hùng, là chi bộ Đảng đầu tiên ở tỉnh Lạng Sơn gồm các đảng viên: Đoàn Viết Bứng, Đoàn Viết Cảnh, Đồng Viết Đại, Nông Viết Bảo và Mã Khánh Phương. Đồng chí Hoàng Văn Thụ được chỉ định làm Bí thư Chi bộ. Chi bộ Thụy Hùng đảm nhận vai trò quan trọng làm nòng cốt để chỉ đạo việc xây dựng và phát triển phong trào cách mạng địa phương trong giai đoạn đầu của cuộc đấu tranh giải phóng do Đảng lãnh đạo trên địa bàn Lạng Sơn.

3. Ý nghĩa lịch sử sự ra đời của Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Lạng Sơn

Sự kiện Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Lạng Sơn ra đời có ý nghĩa to lớn đối với phong trào cách mạng của tỉnh Lạng Sơn:

- Chi bộ đảm nhận vai trò quan trọng làm nòng cốt để chỉ đạo việc xây dựng và phát triển phong trào cách mạng địa phương trong giai đoạn đầu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo trên địa bàn Lạng Sơn.

- Chi bộ Đảng Thụy Hùng thành lập là cột mốc đầu tiên đánh dấu bước trưởng thành của phong trào cách mạng ở Lạng Sơn, ghi nhận một hiện thực sinh động: Hạt giống đỏ của Đảng nảy mầm trên quê hương xứ Lạng.

II. ĐẢNG BỘ TỈNH LẠNG SƠN QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI

1. Hội nghị kiện toàn củng cố Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Lạng Sơn

Từ giữa năm 1944, thực hiện Chỉ thị “Sửa soạn khởi nghĩa” của Tổng bộ Việt Nam (7/5/1944), dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng, các chi bộ Đảng ở Bắc Sơn, Tràng Định và Ban Việt Minh các huyện, thị xã trong tỉnh đã tích cực tuyên truyền, phổ biến đường lối của Mặt trận Việt Minh tới đông đảo quần chúng cách mạng, thúc đẩy phong trào quần chúng cách mạng phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho chuẩn bị lực lượng khi thời cơ đến sẵn sàng nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Trước yêu cầu có sự lãnh đạo tập trung, thống nhất và trực tiếp của Đảng bộ tỉnh đối với phong trào cách mạng đang trên đà phát triển rộng khắp trong toàn tỉnh.

Giữa tháng 5/1945, tại khu rừng Khau Kham, xã Hoa Thám, huyện Bình Gia, Hội nghị kiện toàn củng cố Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Lạng Sơn được tổ chức. Hội nghị đề ra chủ trương: Tiếp tục lãnh đạo đẩy mạnh phong trào cách mạng trong toàn tỉnh, chuẩn bị lực lượng, khi có thời cơ nổi dậy giành chính quyền. Giữ vững thành quả đã giành được ở một số huyện khác, củng cố các đội vũ trang tuyên truyền làm nòng cốt phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa.

Hội nghị cử ra Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời tỉnh gồm các đồng chí: Lô Quang Nam, Bảo An, Phan Mạnh Cư, Hoàng Văn Kiểu. Đồng chí Lô Quang Nam được bầu giữ chức Bí thư.

2. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ I

Cuối năm 1947, khi thực dân Pháp huy động lực lượng tấn công lên căn cứ Việt Bắc, Lạng Sơn trở thành điểm tập trung quân của thực dân Pháp, đường số 4 trở thành chiến trường diễn ra những cuộc chiến đấu ác liệt giữa quân và dân ta với quân địch. Từ cuối năm 1947 đến những tháng đầu năm 1948, quân và dân trong tỉnh đã tích cực phối hợp với bộ đội chủ lực liên tiếp tấn công địch trên đường số 4, lập được những chiến công vang dội trên mặt trận đường số 4. Trong bối cảnh đó, từ ngày 15 đến ngày 19/6/1948, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ I được tổ chức trọng thể tại Bản Đao, xã Tân Văn, huyện Bình Gia.

Đại hội đã đề ra nhiệm vụ tập trung thảo luận, đề ra các nhiệm vụ tiếp tục kháng chiến của quân và dân trong tỉnh: Phát động nhân dân và các cơ quan tranh thủ đẩy mạnh phát triển sản xuất, tự túc lương thực, hưởng ứng phong rào tiết kiệm đóng góp những “Hũ gạo nuôi quân” cung cấp lương thực cho lực lượng vũ trang chiến đấu ngoài mặt trận. Củng cố bộ máy lãnh đạo từ tỉnh đến cơ sở, tăng cường giáo dục, xây dựng niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân vào đường lối kháng chiến do Đảng lãnh đạo. Phát động rộng rãi phong trào chiến tranh du kích, củng cố lực lượng vũ trang chiến đấu, sẵn sàng phối hợp tác chiến mọi lúc, mọi nơi với bộ đội chủ lực trên mặt trận đường số 4. Đại hội chủ trương phân vùng địa bàn tác chiến trong tỉnh thành hai mặt trận. Mặt trận A gồm địa bàn hai huyện Cao Lộc và Lộc Bình. Mặt trận Đông Bắc gồm hai huyện Tràng Định và Văn Uyên.

 Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa I gồm 13 đồng chí. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa I bầu đồng chí Hoàng Văn Kiểu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Cơ quan Tỉnh ủy Lạng Sơn đóng tại thôn Nà Dài, Tân Văn, huyện Bình Gia.

3. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ II

Bước sang năm 1949, quân và dân Lạng Sơn lập được nhiều thành tích vẻ vang trong chiến đấu, củng cố hậu phương, tích cực chi viện cho mặt trận đường số 4, không ngừng tạo thế chủ động bao vây, tiến công địch ở khắp mọi nơi.

Từ ngày 25 đến ngày 29/6/1949, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ II được tổ chức trọng thể tại đình làng thôn Nà Đồng, xã Tân Văn, huyện Bình Gia. Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ kháng chiến của nhân dân trong tỉnh là: Đẩy mạnh phong trào sản xuất lương thực, tích cực chuẩn bị mọi mặt tập trung cho sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Chủ động tiến công và làm tiêu hao sinh lực địch, chuẩn bị tham gia chiến dịch tổng phản công tiêu diệt địch trên mặt trận đường số 4. Bảo vệ, củng cố cơ quan lãnh đạo các cấp, phát động nhân dân phá tề trừ gian, giữ vững an ninh chính trị, trật tự trị an xã hội. Nhanh chóng xây dựng Đảng, phát triển bổ sung kịp thời đội ngũ đảng viên.

Sau khi phân tích cục diện chiến trường, đại hội đã quyết định xây dựng căn cứ du kích Ba Sơn, huyện Cao Lộc thành địa bàn chiến lược xung yếu cho tổng phản công tiêu diệt địch trên mặt trận đường số 4.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa II gồm 16 đồng chí. Đồng chí Hoàng Văn Kiểu được bầu lại giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Phan Mạnh Cư được phân công làm Thường trực Tỉnh ủy.

 4. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ III

Sau Chiến thắng Biên giới 1950, từ ngày 17/10/1950, toàn tỉnh Lạng Sơn được giải phóng trở thành một tỉnh hậu phương vững chắc tiếp tục chi viện sức người, sức của cho cuộc kháng chiến của dân tộc đang trên đà thắng lợi.

Từ ngày 25 đến ngày 31/8/1951, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ III được tổ chức trọng thể tại thôn Khòn Quyền, xã Hồng Phong, huyện Văn Uyên. Có 157 đại biểu tham dự Đại hội.

Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ của tỉnh là: Củng cố hệ thống các cơ quan đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể từ tỉnh tới cơ sở; tăng cường giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tích cực tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, củng cố niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến do Đảng lãnh đạo. Đẩy mạnh sản xuất, chuẩn bị lương thực cung cấp cho yêu cầu của mặt trận, ổn định đời sống nhân dân. Tăng cường xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang, nêu cao cảnh giác sẵn sàng chiến đấu và chi viện sức người cho chiến trường.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa III gồm 15 đồng chí. Đồng chí Hoàng Văn Kiểu được bầu lại giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Hà Mạnh Cư được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

5. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ IV

Từ ngày 15 đến ngày 25/3/1961, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ IV được tổ chức trọng thể tại thị xã Lạng Sơn. Tham dự Đại hội có 153 đại biểu thay mặt cho 5.980 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Đại hội đã thảo luận đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, phương hướng và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong 05 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), đề ra phương hướng nhiệm vụ của tỉnh là: Ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, chú ý phát triển công nghiệp địa phương để phục vụ nông nghiệp; đẩy mạnh công tác tài chính, tiền tệ, phát triển giao thông vận tải. Tăng cường thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán. Tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế cá thể, ra sức phát triển, củng cố hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Tích cực phát triển nền văn hóa mới phục vụ cho phát triển kinh tế và đời sống. Đẩy mạnh phát triển khoa học kỹ thuật, thanh toán nạn mù chữ, mở rộng bổ túc văn hóa. Đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng, nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho quần chúng. Chú ý bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ dân tộc ít người và cán bộ nữ, động viên tinh thần của nhân dân các dân tộc, quyết tâm thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội (1961 - 1965).

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa IV gồm 21 Ủy viên chính thức. Ban Chấp hành Đảng bộ bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 07 đồng chí. Đồng chí Bế Chấn Hưng được bầu lại giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Trịnh Xuân Đức được bầu giữ chức vụ Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy.

6. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ V

Từ ngày 11 đến ngày 19/9/1963, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ V được tổ chức tại thị xã Lạng Sơn. Tham dự Đại hội có 196 đại biểu thay mặt cho 6.720 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Đại hội đã đề phương hướng nhiệm vụ trong những năm tiếp theo là: Tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ và trong nội bộ các tầng lớp nhân dân; tiếp tục cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất mới; triệt để khai thác mọi khả năng, tiềm lực của địa phương; đẩy mạnh sản xuất, tiến hành tốt công tác thu mua, phân phối hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng, nâng cao một bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh”. Nghị quyết Đại hội nêu rõ nhiệm vụ của Cuộc vận động xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở “bốn tốt”.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa V gồm 17 đồng chí Ủy viên chính thức và 4 đồng chí Ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 9 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Đức được bầu giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Bế Chấn Hưng và đồng chí La Thăng được bầu giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh ủy.

7. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ VI

Từ ngày 15 đến ngày 24/6/1971, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ VI được tổ chức tại thị xã Lạng Sơn. Dự Đại hội có 246 đại biểu, thay mặt cho 15.453 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Đại hội đã đề ra nhiệm vụ tổng quát về phát triển kinh tế của tỉnh trong 03 năm 1971 - 1973 là: Đưa nền kinh tế lên từng bước cân đối và phát triển hơn những năm trước chiến tranh, bảo đảm hoàn thành kế hoạch nhà nước để làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước, nâng cao đời sống và có tích lũy, có nhiều hàng xuất khẩu. Củng cố thêm một bước quan hệ sản xuất mới, đưa trình độ quản lý hợp tác xã lên khá hơn trước, đưa trình độ quản lý kinh tế quốc doanh đi vào hạch toán chặt chẽ; góp phần tích cực vào tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng, củng cố hậu phương, sẵn sàng chiến đấu và chi viện đầy đủ cho tiền tuyến đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Trên cơ sở không ngừng củng cố và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý kinh tế và quản lý xã hội của chính quyền, phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ tập thể của quần chúng.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa VI gồm 21 Ủy viên chính thức, 4 Ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 9 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Đức được bầu lại giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí La Thăng và đồng chí Bế Chấn Hưng được bầu lại giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

8. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Lạng lần thứ I

Tháng 4 năm 1976, tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Cao Bằng sáp nhập thành tỉnh Cao Lạng, Tỉnh ủy Cao Lạng đặt tại thị xã Cao Bằng.

Từ ngày 31/3 đến ngày 08/4/1977, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Lạng lần thứ I được tổ chức tại thị xã Cao Bằng. Dự Đại hội có 340 đại biểu thay mặt cho 34.276 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Đại hội đề ra chủ trương, yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cao Lạng trong kế hoạch 5 năm 1976 - 1980 là: Phát huy đầy đủ mọi năng lực sản xuất hiện có và đẩy nhanh tốc độ xây dựng các cơ sở vật chất - kỹ thuật mới trên cơ sở hoàn thành gấp phân vùng; quy hoạch vùng và quy hoạch các ngành; tổ chức lại sản xuất để phát huy nhanh chóng các ưu thế to lớn của nền kinh tế nông lâm - công nghiệp trong toàn tỉnh; đảm bảo gấp những nhu cầu thiết yếu của đời sống nhân dân nhất là lương thực, thực phẩm, tăng cường nguồn hàng xuất khẩu và có tích lũy để tái sản xuất mở rộng. Nâng cao một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân trong tỉnh. Phấn đấu đóng góp ngày càng lớn cho sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà và phục vụ tốt các xí nghiệp và công trình xây dựng của Trung ương tại địa phương. Ra sức xây dựng Đảng bộ vững mạnh về cả ba mặt: Về đường lối, quan điểm của Đảng, về năng lực tổ chức và quản lý và về phẩm chất cách mạng. Trước hết phải xây dựng cho được một đội ngũ cốt cán và cán bộ chủ chốt lãnh đạo từ tỉnh đến cơ sở có quan điểm vững vàng và có tính nguyên tắc cao... kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, ỷ lại; ngăn ngừa chủ nghĩa cơ hội, bè phái; khắc phục tư tưởng gia trưởng phong kiến; chống tệ nói dối, thiếu trung thực, chống tác phong quan liêu, xa rời quần chúng, tự do, tùy tiện; đề cao tính tổ chức và kỷ luật, ý thức trách nhiệm và tính tiền phong gương mẫu trong việc chấp hành các nhiệm vụ của Đảng. Ra sức kiện toàn và tăng cường bộ máy của Đảng, của Nhà nước và của đoàn thể quần chúng ở các cấp, các ngành, nhất là cơ sở.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tỉnh Cao Lạng khóa I gồm 35 đồng chí. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 11 đồng chí. Đồng chí Hoàng Trường Minh được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Bế Chấn Hưng được bầu giữ chức Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy.

Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ bảo vệ biên cương của Tổ quốc, ngày 29/12/1978, kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa VI ban hành Nghị quyết chia tách tỉnh Cao Lạng, tái lập tỉnh Cao Bằng và tỉnh Lạng Sơn; sáp nhập huyện Đình Lập (tỉnh Quảng Ninh) vào tỉnh Lạng Sơn.

Ngày 06/02/1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Quyết định số 672-NQ-NS/TW về việc chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn gồm 21 Ủy viên chính thức, chỉ định Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 7 đồng chí. Đồng chí Hoàng Trường Minh - Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí La Thăng - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, đồng chí Bế Chu Lang - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn sau khi tái lập có 18.643 đảng viên.

9. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ VIII

Từ ngày 15 đến ngày 17/9/1980, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ VIII được tiến hành trọng thể tại Đồng Bành, huyện Chi Lăng với 240 đại biểu đại diện cho trên 17.000 đảng viên[15] trong toàn Đảng bộ tham dự Đại hội.

Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ là: Xây dựng Lạng Sơn thành tuyến phòng thủ bảo vệ Tổ quốc thêm vững chắc cả về chính trị, quân sự, an ninh, củng cố khối đoàn kết dân tộc; đẩy mạnh sản xuất làm ra nhiều lương thực, thực phẩm, nông - lâm sản, hàng hóa cho tiêu dùng và xuất khẩu, sắp xếp ổn định một bước đời sống của nhân dân, xây dựng Đảng bộ vững mạnh, trong sạch; kiện toàn Đảng bộ và cải tiến một bước bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy và quản lý; kiên quyết khắc phục những biểu hiện tiêu cực trong kinh tế và đời sống xã hội.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VIII gồm 39 Ủy viên chính thức, 02 Ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 11 đồng chí. Đồng chí Hoàng Trường Minh được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí La Thăng được bầu giữ chức Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, đồng chí Bế Chu Lang được bầu lại giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Ngày 24/4/1982, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 59/QĐ-NS-TW, phân công đồng chí La Thăng, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy làm Bí thư Tỉnh ủy thay đồng chí Hoàng Trường Minh đi nhận nhiệm vụ khác.

10. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ IX

Từ ngày 03 đến ngày 05/02/1983, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ IX đã được tổ chức trọng thể tại Đồng Bành, huyện Chi Lăng, Lạng Sơn với 400 đại biểu thay mặt cho 18.140 đảng viên tham gia Đại hội.

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ của nhiệm kỳ là: Tiếp tục củng cố, xây dựng phòng tuyến biên giới vững chắc để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đảm bảo an ninh chính trị, củng cố khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết quân dân, ra sức phát triển kinh tế tương đối toàn diện, trọng tâm là sản xuất lương thực, thực phẩm, nông lâm sản, hàng hóa, từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế nông - lâm - công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Kiên quyết cải tiến công tác quản lý kinh tế, củng cố một bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Giải quyết tốt hơn về nhu cầu ăn, mặc, ở, học tập, chữa bệnh và đời sống văn hóa của nhân dân các dân tộc. Củng cố các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đưa các hoạt động kinh tế - xã hội vào trật tự kỷ cương xã hội, tăng cường bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực trong hoạt động kinh tế - xã hội.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa mới gồm 41 Ủy viên chính thức và 4 Ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 13 đồng chí. Đồng chí La Thăng, Uỷ viên Trung ương Đảng được bầu lại giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Trần Rỹ được bầu giữ chức Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, đồng chí Bế Chu Lang được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

11. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ X

Từ ngày 10 đến ngày 15/10/1986, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ X được tiến hành tại thị xã Lạng Sơn. Tham dự Đại hội có 330 đại biểu, thay mặt cho toàn thể đảng viên trong toàn Đảng bộ tỉnh.

Đại hội đề ra mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ mới là: Từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế nông - lâm - công nghiệp; gắn chặt với xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ, có hiệu quả giữa quốc phòng với kinh tế và kinh tế với quốc phòng; tiếp tục xây dựng tuyến phòng thủ biên giới vững mạnh toàn diện về chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh để bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá X, gồm 45 uỷ viên chính thức, 13 uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh bầu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ gồm 13 đồng chí. Đồng chí La Thăng, Uỷ viên Trung ương Đảng được bầu lại giữ chức Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Vy Xuân Thanh được bầu giữ chức vụ Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ, đồng chí Vũ Ngọc Chương và đồng chí Nguyễn Minh Quát được bầu giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh uỷ.

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đồng chí Vy Xuân Thanh được điều động về công tác tại Ủy ban Kiểm tra Trung ương theo Quyết định số 84-NQ/NS/TW ngày 26/02/1987 (đến cuối khóa VI, Ban Bí thư ban hành quyết định điều chuyển đồng chí Vy Xuân Thanh về bổ sung vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn và tham gia Ban Thường vụ Tỉnh uỷ theo Quyết định số 897-NQNS/TW ngày 12/4/1990), đồng chí Vũ Ngọc Chương được phân công làm Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ.

12. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XI

Trong hai ngày 23 và ngày 24/4/1991, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XI (vòng 1) được tổ chức tại thị xã Lạng Sơn. Đại hội thảo luận và đóng góp ý kiến vào dự thảo Văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI) trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng gồm 16 đồng chí.

Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XI (vòng 2) tiến hành từ ngày 18 đến ngày 21 tháng 11 năm 1991 tại thị xã Lạng Sơn. Tham dự Đại hội có 247 đại biểu, thay mặt cho 20.672 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong giai đoạn 1991 - 1995: Đẩy mạnh phát triển sản xuất, chế biến trên cơ sở khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tạo thêm việc làm, sản xuất nhiều sản phẩm hàng hoá. Tổ chức quản lý tốt thị trường. Tích cực giải quyết những vấn đề cấp bách về xã hội. Giảm nhịp độ tăng dân số, chăm lo sức khoẻ, nâng cao dân trí, tăng mức hưởng thụ văn hoá cho nhân dân, phấn đấu từng bước thực hiện công bằng xã hội, đẩy lùi tiêu cực. Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân. Củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo; kiên trì và nhất quán với mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Củng cố các cơ sở Đảng vững mạnh, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Củng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc. Quán triệt đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước theo phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XI, nhiệm kỳ 1991 - 1995, gồm 47 đồng chí. Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy khoá XI gồm 11 đồng chí. Đồng chí Hoàng Tanh được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Vy Xuân Thanh được bầu giữ chức Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy và đồng chí Dương Công Đá được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

13. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XII

Từ ngày 24 đến ngày 26/4/1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XII, nhiệm kỳ 1996 - 2000 được tổ chức tại thị xã Lạng Sơn. Tham dự Đại hội có 298 đại biểu thay mặt cho 21.768 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Đại hội đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2000 là: Tập trung mọi nguồn lực, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của địa phương, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, phấn đấu đạt và vượt các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 1996 - 2000; tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với việc giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng; vượt qua tình trạng tỉnh nghèo, cải thiện một bước mức sống của nhân dân, nâng cao tích lũy từ nội bộ về nền kinh tế, tạo tiền đề cần thiết, vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào sau năm 2000.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XII, nhiệm kỳ 1996 - 2000, gồm 47 đồng chí. Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ gồm 13 đồng chí. Đồng chí Hoàng Tanh, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu lại giữ chức Bí thư Tỉnh uỷ; đồng chí Vy Xuân Thanh được bầu lại giữ chức Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ; đồng chí Dương Công Đá được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh uỷ.

14. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XIII

Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XIII tiến hành từ ngày 01 đến ngày 04/01/2001 tại thị xã Lạng Sơn. Tham dự Đại hội có 299 đại biểu thay mặt cho 29.638 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Đại hội đã nêu rõ mục tiêu tổng quát thời kỳ 2001 - 2005 là: Tập trung sức thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội với nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân của 5 năm trước, khắc phục cho được những tồn tại, yếu kém của nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; tạo sự chuyển biến rõ rệt trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo, coi trọng phát huy nhân tố con người. Tập trung giải quyết các vấn đề về việc làm, xóa đói giảm nghèo, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân. Giữ vững an ninh, đảm bảo an toàn xã hội, chính trị ổn định, củng cố quốc phòng, an ninh vững mạnh, chủ động đối phó với mọi tình huống.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIII gồm 47 ủy viên. Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 13 đồng chí. Đồng chí Dương Công Đá được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy[17]; đồng chí Hoàng Công Hoàn được bầu giữ chức Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy. Ngày 05/11/2003, Bộ Chính trị ra Quyết định số 828-QĐ/NSTW phân công đồng chí Hoàng Công Hoàn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lạng Sơn giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn.

15. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XIV

Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XIV tiến hành từ ngày 01 đến ngày 03/4/2006 tại thành phố Lạng Sơn. Dự đại hội có 299 đại biểu thay mặt cho trên 38.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Đại hội đề ra mục tiêu tổng quát cho nhiệm kỳ (2006 - 2010) là: Đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch rõ nét cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát huy tốt các tiềm năng, lợi thế, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn giai đoạn (2001 - 2005) và phát triển bền vững, từng bước vượt qua tình trạng tỉnh nghèo, rút ngắn dần khoảng cách so với trình độ phát triển chung của cả nước; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; củng cố quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, bảo vệ biên giới quốc gia hòa bình, ổn định và hữu nghị; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ, đáp ứng tốt yêu cầu trong giai đoạn mới; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV gồm 49 đồng chí. Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí. Đồng chí Vũ Huy Hoàng được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Phùng Thanh Kiểm được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

16. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XV

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XV tiến hành từ ngày 14 đến ngày 16/10/2010 tại thành phố Lạng Sơn; tham dự Đại hội có 350 đại biểu thay mặt cho gần năm vạn đảng viên của Đảng bộ tỉnh.

Đại hội xác định mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ 2010 - 2015 là: Đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, phát huy tốt các tiềm năng, lợi thế, huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, phấn đấu để Lạng Sơn cơ bản đạt trình độ phát triển trung bình của cả nước; đảm bảo an sinh xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; bảo vệ môi trường; tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an ninh ninh biên giới quốc gia, xây dựng vùng biên giới ổn định, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV gồm 55 đồng chí. Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 15 đồng chí. Đồng chí Phùng Thanh Kiểm[18] được bầu lại giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Nguyễn Thế Tuy, đồng chí Vy Văn Thành được bầu giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh ủy.

17. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI

Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI tiến hành từ ngày 27 đến ngày 29/10/2015 tại thành phố Lạng Sơn. Tham dự Đại hội có 348 đại biểu thay mặt cho toàn thể đảng viên của Đảng bộ tỉnh.

Đại hội đã đề ra mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ 2015 - 2020: Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của toàn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khai thác tiềm năng, lợi thế của tỉnh; gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc; tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh; giữ vững an ninh chính trị; đảm bảo trật tự an toàn xã hội; đảm bảo vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia; không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; xây dựng Lạng Sơn phát triển toàn diện, bền vững.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI gồm 53 đồng chí. Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 13 đồng chí. Đồng chí Hoàng Văn Nghiệm được bầu giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh uỷ Lạng Sơn khoá XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020. Trước khi diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI, ngày 23/10/2015, Bộ Chính trị ra Quyết định số 2073-QĐ/NSTW về việc điều động, phân công đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn, nhiệm kỳ 2015 - 2020.

18. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVII

Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVII tiến hành từ ngày 25 đến ngày 27/9/2020 tại thành phố Lạng Sơn; tham dự Đại hội có 350 đại biểu, thay mặt cho gần 65.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Đại hội đề ra mục tiêu tổng quát trong nhiệm kỳ 2020 - 2025 là: Tăng cường xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc; đổi mới; sáng tạo; nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước; huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại, du lịch, dịch vụ, hạ tầng khu, cụm công nghiệp va tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, đô thị; đẩy mạnh phát triển văn hóa, xã hội; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại; đảm bảo biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, xây dựng tỉnh Lạng Sơn phát triển nhanh, bền vững. Đại hội đã đề ra 20 chỉ tiêu chủ yếu để thực hiện trong năm 5 (2020 - 2025).

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII gồm 53 đồng chí. Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 15 đồng chí. Đồng chí Lâm Thị Phương Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu lại giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Các đồng chí Hoàng Văn Nghiệm, Hồ Tiến Thiệu được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

III. NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ VẺ VANG QUA 91 NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LẠNG SƠN ĐẢNG BỘ TỈNH LẠNG SƠN QUA CÁC THỜI KỲ

1. Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1933 - 1945)

Tháng 8/1934, đồng chí Hoàng Văn Thụ đề nghị với đồng chí Lê Hồng Phong - Thư ký Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng, triệu tập và chủ trì cuộc họp với Chi bộ Thụy Hùng ở hang Áng Cúm. Ban Cán sự Đảng tỉnh Lạng Sơn được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Ban cán sự Đảng tỉnh phong trào cách mạng của tỉnh Lạng Sơn từng bước phát triển.

Cao trào đấu tranh 1936 - 1939 trên phạm vi cả nước là thời kỳ phong trào cách mạng ở Lạng Sơn từng bước phục hồi dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy Bắc Kỳ. Kết quả những cuộc đấu tranh của quần chúng đòi quyền dân sinh, dân chủ, bằng hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp ở Bắc Sơn và Tràng Định thời gian này đã khích lệ tinh thần cách mạng, tập dược đấu tranh chính trị cho quần chúng, chuẩn bị cơ sở cho những cuộc đấu tranh quyết liệt mới với kẻ thù trong giai đoạn cách mạng trước mắt: Đánh Pháp, đuổi Nhật tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Đặc biệt là sự kiện thành lập Chi bộ Đảng châu Bắc Sơn (năm 1936) và Tràng Định (năm 1938) là minh chứng cho lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu dũng cảm và niềm tin tuyệt đối của các chiến sĩ cách mạng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra (từ ngày 27/9 đến ngày 28/10/1940) đã có tác dụng trực tiếp, tích cực cổ vũ tinh thần đoàn kết đấu tranh cách mạng của nhân dân trong tỉnh và gây tiếng vang lớn trên cả nước. Đội du kích Bắc Sơn ra đời, căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai được thành lập đã thực sự trở thành nòng cốt cho việc củng cố và phát triển phong trào cách mạng của các địa phương trong tỉnh. Việc sử dụng hình thức vũ trang giành chính quyền của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã trở thành bài học sâu sắc nhất cho quá trình chuẩn bị lực lượng mọi mặt, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Lạng Sơn...

2. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)

Sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp rắp tâm trở lại xâm lược nước ta. Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: “... Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...”[19]Đảng bộ và nhân dân Lạng Sơn đã đoàn kết đấu tranh bất khuất, kiên cường, anh dũng phá tan âm mưu bình định chiếm đóng của địch. Bằng những chiến công như: Ba Sơn, Chi Lăng, Lũng Vài, Lũng Phầy, Bó Củng, Đèo Khách, Bản Nằm... tiêu diệt hàng nghìn tên xâm lược, quân và dân Lạng Sơn đã góp phần cùng quân và dân cả nước biến con đường số 4 anh hùng trở thành “Con đường chết” đối với quân thù, giải phóng biên giới, giải phóng Lạng Sơn, tạo ra một địa bàn hậu phương quan trọng góp phần đưa cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ của dân tộc ta đi đến thắng lợi: Đánh bại hoàn toàn quân viễn chinh Pháp, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

3. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975)

Từ năm 1954 - 1975, Nhân dân ta vừa tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh chống đế quốc Mỹ ở miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn bằng những chiến công và lòng dũng cảm đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng do Đảng dày công vun đắp. Các phong trào quần chúng rộng lớn từ vùng thấp đến vùng cao xa xôi hẻo lánh, từ nội địa đến biên giới, ở đâu cũng sôi nổi không khí chiến đấu cách mạng. Tuổi trẻ với phong trào “Ba sẵn sàng”, chị em phụ nữ với phong trào “Ba đảm đang”, lực lượng vũ trang với phong trào “Quyết thắng”, các cụ phụ lão với phong trào “Ba giỏi”, các cháu thiếu nhi với phong trào “Nghìn việc tốt”... đã biểu lộ ý chí “quyết chiến quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược” với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến”. Hàng vạn cán bộ, đảng viên và thanh niên các dân tộc trong tỉnh đã tiếp nối cha anh, lớp lớp lên đường xông ra tiền tuyến giết giặc. Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của địch, Lạng Sơn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đảm bảo giao thông thông suốt ở vị trí là “cảng nổi” của cả nước. Đảng bộ và nhân dân đã vượt qua muôn vàn khó khăn vừa sản xuất vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu; vừa chi viện đầy đủ cho tiền tuyến, vừa tăng cường lực lượng phòng, chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ với việc bắn rơi 85 máy bay các loại của đế quốc Mỹ. Đó là những thành tích lớn, phấn khởi và tự hào mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã làm tròn trách nhiệm của mình, góp phần cùng nhân dân cả nước làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước oai hùng.

 4. Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới, hội nhập và phát triển (1975 đến nay)

Trong 10 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (từ năm 1975 đến năm 1985), một lần nữa, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Lạng Sơn lại phải đương đầu với những thử thách, gian khổ mới trong bối cảnh vừa có hòa bình vừa phải tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới của Tổ quốc. Cùng một lúc phải tiến hành hàn gắn những vết thương do chiến tranh phá hoại và chiến tranh biên giới tàn phá là một thử thách nặng nề đối với Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Lạng Sơn. Với ý chí kiên cường trước khó khăn, gian khổ, từ trong mất mát, thiếu thốn, nghèo nàn, lạc hậu của đời sống kinh tế - xã hội, kiên định với đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Lạng Sơn đã nêu cao tinh thần đoàn kết, nỗ lực vượt qua những trở ngại, tự lực, tự cường, chủ động khắc phục khó khăn, tìm tòi, định hướng, đóng góp không ngừng công sức và trí tuệ để khôi phục, củng cố, phát triển kinh tế - xã hội, từng bước vươn lên giành những thành tựu mới, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, như Cương lĩnh chính trị của Đảng đã chỉ rõ.

Sau 38 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo (1986 - 2024), Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong tỉnh đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc trong tỉnh, nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, khơi dậy mọi tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, xây dựng Lạng Sơn trở thành tỉnh ngày càng phát triển ở miền biên cương của Tổ quốc.

Trong 10 năm đầu (1986 - 1996) tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện, vượt lên những thách thức sau sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu, Liên Xô và tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường cùng những khó khăn vốn có của một tỉnh miền núi, biên giới phía Bắc của Tổ quốc, Đảng bộ, chính quyền tỉnh đã quán triệt sâu sắc đường lối đổi mới của Đảng, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của tỉnh, kịp thời hoạch định những chủ trương đúng đắn và năng động, sáng tạo trong chỉ đạo thực tiễn; đồng thời, nhận được sự đồng tình, ủng hộ và tích cực tham gia của các cấp, các ngành, các địa phương và cả hệ thống chính trị, các thành phần kinh tế cũng như các tầng lớp nhân dân nên đã giành được những thành tựu bước đầu.

Từ năm 1996 đến năm 2024, Đảng bộ, chính quyền tỉnh đã vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng vào tình hình thực tế của tỉnh trên cơ sở quán triệt quan điểm: phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, cùng với phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội và quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Bên cạnh đó, Đảng bộ tỉnh luôn nắm vững và giải quyết đúng đắn, hài hòa các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ...; đồng thời, căn cứ vào tình hình thực tế và yêu cầu, nhiệm vụ của tỉnh, Đảng bộ lựa chọn những nhiệm vụ cấp bách, trọng tâm để tập trung lãnh đạo, tạo tiền đề để thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của tỉnh trong từng nhiệm kỳ. Trong giai đoạn, tỉnh đã đạt được những thành tựu vượt bậc về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Tình hình chính trị luôn ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố vững chắc. Công tác xây dựng đảng được chú trọng. Tính đến ngày 15/3/2024, toàn Đảng bộ tỉnh có 684 tổ chức cơ sở đảng (308 đảng bộ cơ sở, 376 chi bộ cơ sở), với tổng số 70.250 đảng viên. Đã triển khai thực hiện Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy theo Quy định số 137-QĐ/TW, ngày 01/12/2023 của Ban Bí thư. Công tác cán bộ được thực hiện đồng bộ từ đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng đến bố trí, sử dụng cán bộ. Triển khai rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 (2021 - 2026) và nhiệm kỳ 2025 - 2030 (2026 - 2031).

Trải qua 91 năm xây dựng và phát triển, Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn không ngừng lớn mạnh, trưởng thành vững chắc về mọi mặt. Trong từng thời kỳ cách mạng, Đảng bộ tỉnh luôn quán triệt và chủ động vận dụng linh hoạt chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, nắm vững tình hình đặc điểm của tỉnh để lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị. Luôn chú trọng xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng và các tầng lớp nhân dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quân dân để tạo thành sức mạnh tổng hợp, sẵn sàng vượt mọi khó khăn, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đã đề ra. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng bộ tỉnh luôn kiên trì thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nắm vững quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, kịp thời đề ra những chủ trương phù hợp với thực tiễn của tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc biên giới Tổ quốc.

Với ý nghĩa, bề dày truyền thống xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn qua các thời kỳ lịch sử, nhằm tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong toàn tỉnh, ngày 22/12/2022, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 101-NQ/TU về Ngày truyền thống Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn. Trong đó, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quyết nghị lấy ngày 15/6/1933 là Ngày truyền thống Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn.

Kỷ niệm 91 năm Ngày truyền thống Đảng bộ Lạng Sơn (15/6/1933 - 15/6/2024), chúng ta tự hào về truyền thống yêu nước, đoàn kết, tinh thần cách mạng kiên cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng quê hương, đất nước của các thế hệ cha anh đi trước. Kế tục và phát huy truyền thống cao quý đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn, toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân, chiến sĩ lực lượng vũ trang trong tỉnh luôn đoàn kết một lòng, phát huy dân chủ, năng động, sáng tạo, tích cực hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước gắn với thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2023 và những năm tiếp theo; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã đề ra ./.                   

Theo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lạng Sơn

 

Nguyễn Thị Lệ, công chức Văn phòng - Thống kê

About